Kỳ I - Ngân hàng Nhà nước không phải bồi hoàn thay cho qũy tín dụng nhân dân

Cập nhật: 08:45 | 23/08/2017

(BGĐT) - LTS: Thời gian qua, Báo Bắc Giang nhận được nhiều câu hỏi của độc giả về lĩnh vực tín dụng. Để giúp bạn đọc tìm hiểu, nắm được những quy định pháp luật tín dụng cần thiết, Báo Bắc Giang phối hợp với Đoàn Luật sư tỉnh thông tin về nội dung này như sau:

Tìm hiểu pháp luật, tín dụng, Ngân hàng Nhà nước

Quỹ TDND xã Trù Hựu (Lục Ngạn), nơi có cán bộ vi phạm pháp luật gây thiệt hại lớn cho khách hàng.

HỎI:

Tôi gửi số tiền lớn vào quỹ tín dụng nhân dân. Mới đây cơ quan chức năng phát hiện cán bộ quỹ vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho nhiều khách hàng, trong đó có tôi. Xin hỏi tôi và các nạn nhân có được Ngân hàng Nhà nước bồi thường trong trường hợp quỹ không có khả năng chi trả hay không?

NGUYỄN THÙY DUNG (TP Bắc Giang)

 

TRẢ LỜI:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, quỹ tín dụng nhân dân được tổ chức, hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Hợp tác xã 2012, Bộ luật Dân sự và một số văn bản pháp luật khác.

Ngân hàng Nhà nước, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước được tổ chức hoạt động theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010. Quỹ tín dụng và Ngân hàng Nhà nước là hai loại tổ chức có chức năng, nhiệm vụ tổ chức, điều hành hoạt động, mục đích hoạt động khác nhau, được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật khác nhau nhưng có mối quan hệ trong tổng thể.

Mục 6, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng định nghĩa: Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật Hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Điều 6, Thông tư 04/2017 của Ngân hàng Nhà nước quy định: “Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống”. Quyền tự chủ hoạt động của quỹ được quy định tại Điều 7, Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Không tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”.

Tìm hiểu pháp luật, tín dụng, Ngân hàng Nhà nước

Giám đốc Quỹ TDND xã Lam Cốt (Tân Yên) Nguyễn Mạnh Thư hầu tòa vì lừa đảo, chiếm đoạt hơn một tỷ đồng của khách hàng.

Điều 2, Luật Ngân hàng Nhà nước quy định vị trí, chức năng của Ngân hàng Nhà nước: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ”.

Với chức năng là cơ quan nhà nước, là Ngân hàng Trung ương, vai trò của Ngân hàng Nhà nước đối với quỹ tín dụng thể hiện chủ yếu ở các mặt: Cấp giấy phép thành lập quỹ khi đủ điều kiện, kiểm tra, giám sát, hướng dẫn nghiệp vụ trong quá trình quỹ tín dụng hoạt động, thực hiện một số hỗ trợ, bảo đảm an toàn, ban hành văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của quỹ... Trong các chức năng của Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ thanh tra, giám sát, cấp phép, thu hồi giấy phép hoạt động của quỹ; quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt; tạm đình chỉ, miễn nhiệm chức vụ người đứng đầu quỹ, tổ chức tín dụng... Với các nhiệm vụ quản lý hành chính đặc thù này đã dẫn đến một số người dân cho rằng quỹ tín dụng là đơn vị cấp dưới phụ thuộc vào các thành viên của Ngân hàng Nhà nước là không đúng. Theo những quy định trên, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan hành chính, quỹ tín dụng là tổ chức kinh tế, quỹ là chủ thể độc lập, không phải thành viên, đơn vị phụ thuộc hay cấp dưới của Ngân hàng Nhà nước.  

Điều 4, Luật Ngân hàng Nhà nước quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước cũng không đề cập trách nhiệm phải bồi thường thay của Ngân hàng Nhà nước cho các quỹ tín dụng. Quỹ tín dụng là tổ chức kinh tế độc lập, hoạt động độc lập, có quyền tự chủ hoạt động. Lợi nhuận của quỹ tín dụng được phân chia cho thành viên theo luật chứ không chuyển về Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước không là đơn vị thụ hưởng lợi nhuận từ hoạt động của quỹ.

Với các lý do đó,  pháp luật  không quy định Ngân hàng Nhà nước phải có trách nhiệm đền bù thay cho quỹ tín dụng hoặc cán bộ của quỹ tín dụng có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho khách hàng. Trường hợp gia đình bạn và những khách hàng gửi tiền vào quỹ bị cán bộ quỹ có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại, Ngân hàng Nhà nước không có trách nhiệm phải bồi thường.

(Còn nữa)

Luật sư Trần Văn An

 
Bình luận mới vừa được thêm vào. Click để xem
Mới nhấtHay nhấtXếp theo: